Theo Hiệp hội chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), ngành thủy sản Việt Nam đã ghi nhận những kết quả đáng chú ý về mặt kim ngạch từ đầu năm. Giá trị xuất khẩu riêng tháng 5 đạt 1,02 tỷ USD, tăng nhẹ 0,6%. Lũy kế 5 tháng đầu năm đạt 4,67 tỷ USD, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2025.
Mức tăng hai con số cho thấy ngành thủy sản vẫn giữ được đà phục hồi, nhưng phía sau kết quả này là một bức tranh không hoàn toàn thuận lợi khi đơn hàng thận trọng hơn, thị trường phân hóa rõ hơn và yêu cầu tuân thủ ngày càng trở thành điều kiện then chốt để giữ khách hàng.
Mặt hàng chủ lực: Tôm và cá tra cùng tăng hai chữ số
Xét về ngành hàng, tôm tiếp tục là mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, đạt 1,9 tỷ USDrong 5 tháng đầu năm, tăng 11,5% so với cùng kỳ và chiếm khoảng 40,4% tổng kim ngạch thủy sản.
Đà tăng của mặt hàng này đến từ sự phục hồi của một số thị trường châu Á, nhu cầu với nhóm sản phẩm chế biến và xuất khẩu tôm hùm sang Trung Quốc.
Một vấn đề đáng chú ý là sự lệch pha giữa sản xuất trong nước và nhu cầu thế giới. Trong khi người nuôi có xu hướng chuyển sang nuôi tôm cỡ lớn để tối ưu giá trị trên mỗi đơn vị sản lượng, thì một số thị trường lớn lại tăng nhu cầu đối với tôm cỡ nhỏ, phù hợp hơn với phân khúc tiêu dùng tiết kiệm.
Ngoài ra, tôm Việt Nam còn đối mặt với áp lực lớn về giá thành, sự cạnh tranh gay gắt từ Ecuador, Ấn Độ, Indonesia và các biện pháp phòng vệ thương mại tại Mỹ.
Đối với cá tra, xuất khẩu 5 tháng đạt 905 triệu USD, tăng 12,6%. Đây là nhóm hàng có nền tảng tương đối thuận lợi nhờ nguồn cung ổn định và giá phù hợp với xu hướng tiêu dùng tiết kiệm và dư địa tại Trung Quốc, ASEAN, Trung Đông, EU cùng một số thị trường mới.
Áp lực đến từ chi phí đầu vào như giá cá giống duy trì ở mức cao từ năm 2025, cùng chi phí thức ăn và vận chuyển đang khiến nhiều hộ nuôi thận trọng khi mở rộng. Nếu chi phí nuôi tiếp tục tăng sẽ tạo sức ép lên giá thành nguyên liệu và biên lợi nhuận.
Đáng chú ý, diễn biến nguồn cung cá thịt trắng thế giới với sản lượng cá minh thái giảm khoảng 30%, trong khi chi phí nhiên liệu tăng mạnh làm giá nguyên liệu tăng 30–50% đã tạo ra cơ hội dịch chuyển nhu cầu sang cá tra Việt Nam và cá rô phi.
Trái với hai mặt hàng trên, xuất khẩu cá ngừ giảm 6%, đạt 372 triệu USD do sức ép từ thiếu nguyên liệu và các quy định nghiêm ngặt về truy xuất nguồn gốc tại Mỹ và EU.
Các nhóm hải sản khác ghi nhận tín hiệu tích cực như mực, bạch tuộc đạt 304 triệu USD, tăng 18%; cua ghẹ và giáp xác khác đạt 160 triệu USD, tăng 19%; nhuyễn thể có vỏ đạt 122 triệu USD, tăng 22,8%.
Thị trường xuất khẩu: Trung Quốc là động lực, Mỹ suy giảm
Thị trường Trung Quốc và Hồng Kông đang đóng vai trò là động lực tăng trưởng lớn nhất, đạt 1,2 tỷ USD, tăng 40,5%. Nhu cầu tăng đối với tôm, cá tra, cua, nhuyễn thể và một số hải sản giá trị cao đã hỗ trợ đáng kể cho xuất khẩu.
Tuy nhiên, việc tuân thủ các quy định mới là điều kiện bắt buộc, điển hình là Lệnh 280 có hiệu lực từ ngày 1/6/2026. Thị trường này đang chuyển nhanh sang nhập khẩu chính ngạch, kiểm soát chặt hơn về chất lượng, an toàn sinh học, đăng ký doanh nghiệp, mã số vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc.
Ở chiều ngược lại, thị trường Mỹ giảm 10%, đạt 689 triệu USD; EU giảm 2,2%, đạt 435,6 triệu USD do các rào cản về thuế và an toàn thực phẩm.
Trong khi đó, Nhật Bản tăng nhẹ 0,4%, Hàn Quốc tăng 4%, ASEAN tăng 16,8% là các thị trường giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro.
Dự phóng cho năm 2026, Vasep dự báo xuất khẩu thủy sản cả năm có thể đạt mức tăng trưởng khoảng 8–10%, kim ngạch trên 12 tỷ USD nếu các vấn đề về nhu cầu thị trường, giá thành và rào cản thương mại được giải quyết hiệu quả. Nếu không, tăng trưởng nửa cuối năm sẽ chậm lại.
Nguồn tài liệu: 5 tháng đầu năm 2026: Xuất khẩu thủy sản tăng trưởng tích cực, nhưng đơn hàng nửa cuối năm còn nhiều biến số




.jpeg)

















